Medsafe: Điểm tin từ cuộc họp Ủy ban về phản ứng có hại của thuốc của Bộ Y tế New Zealand lần thứ 173

Ngày 8/3/2018, Bộ Y tế New Zealand đã tổ chức cuộc họp Ủy ban về phản ứng có hại của thuốc (MARC) lần thứ 173. Sau đây là các tin liên quan về cảnh giác dược:

 

1. Hiệu quả của thuốc ngừa thai khẩn cấp chứa levonorgestrel theo cân nặng

 

Việc hiệu chỉnh liều thuốc ngừa thai khẩn cấp chứa levogestrel theo cân nặng đã được MARC đánh giá lần gần đây nhất vào cuộc họp vào tháng 6/2014. Các hướng dẫn lâm sàng của New Zealand khuyến cáo rằng nên tăng gấp đôi liều levonorgestrel lên 3 mg đối với phụ nữ có cân nặng trên 70 kg hoặc BMI > 26 kg/m2.Tại cuộc họp này, các dữ liệu hiện có mới nhất đã được đưa ra và MARC nhận thấy thiếu mối quan hệ về dược độnghọc/dược lực của thuốc này. Mặc dù các bằng chứng về dược động học cho thấy nồng độ levonorgestrel thấp ở phụ nữ có cân nặng hoặc BMI cao nhưng không có bằng chứng về dược lực học chỉ ra việc tăng liều gấp đôi sẽ đạt hiệu quả ngừa thai. Ủy ban cũng thảo luận về vấn đề y đức khi sử dụng liều không được phê duyệt. Bệnh nhân cần được nhận thức rõ rằng mức liều tăng gấp đôi có thể có hoặc không có hiệu quả và cần điền đầy đủ thông tin vào phiếu cam kết đồng ý sử dụng liều này.

 

Kết luận của Ủy ban: không có đủ bằng chứng về lợi ích khi sử dụng liều gấp đôi levonorgestrel, đồng thời, việc tăng liều này có thể kèm theo nguy cơ. Vì vậy, không khuyến cáo sử dụng liều cao hơn 1,5 mg. Tuy nhiên, MARC cũng thừa nhận rằng,dữ liệu hiện tại cho thấy liều 1,5 mg có thể ít hiệu quả hơn ở phụ nữ có cân nặng hoặc BMI cao. Cơ quan Quản lý Dược phẩm New Zealand (Medsafe) cần thu thập thêmthông tin để quyết định về việc có cần thiết đưa ra khuyến cáo chính thức về việc sử dụng mức liều levonorgestrel chưa được phê duyệt hay không.

 

2. Vấn đề vềan toàn thuốc khi sử dụng codein ở trẻ em

 

Nhiều động thái về mặt quản lý các thuốc chứa codein đã được nhiều cơ quan quản lý dược phẩm trên thế giới đưa ra. Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA Hoa Kỳ) chống chỉ định các thuốc chứa codein cho trẻ dưới 12 tuổi với bất kỳ chỉ định nào (tháng 4/2016) và cho trẻ dưới 18 tuổi với chỉ định giảm đau sau phẫu thuật cắt amidal hoặc nạo V.A. (tháng 5/2013). Gần đây nhất, FDA tiếp tục giới hạn chỉ định các thuốc chứa codein điều trị ho và cảm lạnh cho trẻ dưới 18 tuổi. Tương tự, Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA) đã giới hạn việc sử dụng các thuốc chứa codein cho trẻ dưới 12 tuổi để điều trị ho và cảm lạnh, đồng thời, chống chỉ định các thuốc này cho trẻ dưới 18 tuổi sau phẫu thuật cắt amidal hoặc nạo V.A. Cơ quan Quản lý Dược phẩm Úc (TGA) cũng chống chỉ định codein cho trẻ dưới 12 tuổi với bất kỳ chỉ định nào và cũng không cho phép trẻ 12 - 18 tuổi sử dụng thuốc này sau phẫu thuật cắt amidal hoặc nạo V.A. Còn sau đây là các khuyến cáo của MARC:

  • Chống chỉ địnhthuốc chứa codeincho trẻ dưới 12 tuổi với tất cả các chỉ định.
  • Chống chỉ định thuốc chứa codeincho trẻ dưới 18 tuổi với chỉ định giảm đau sau phẫu thuật cắt amidal hoặc nạo V.A.
  • Chống chỉ địnhthuốc chứa codeincho trẻ dưới 18 tuổi có tổn thương chức năng hô hấp.
  • Chống chỉ địnhthuốc chứa codeincho trẻ dưới 18 tuổi với chỉ định ho.

 

3. Medroxyprogesteron và hội chứng cai thuốc

 

Depo-Provera là một progestin được chỉ định ngừa thai, điều trị lạc nội mạc tử cung, hỗ trợ và/hoặc điều trị giảm nhẹ ung thư nội mạc tử cung hoặc biểu mô thận di căn hoặc tái phát và điều trị ung thư vú phụ thuộc liệu pháp hormon tái phátở phụ nữ sau mãn kinh.

 

Gần đây, Trung tâm giám sát phản ứng có hại của thuốccủa New Zealand(CARM) nhận được một báo cáo ca mô tả hội chứng cai thuốc sau khi dừng medroxyprogesteron acetat (Depo-Provera).Các triệu chứng được báo cáo bao gồm: có cảm giác nhiễm virus với biểu hiện mệt mỏi, đau mắt, rối loạn thị giác, ngứa, bồn chồn, kích động, run, buồn nôn và khó thở. Trên các diễn đàn internet, một số phụ nữ khác cũng cho rằng họ gặpcác triệu chứng tương tự khi dừng Depo-Provera. Trong đó, một số triệu chứng thường được đề cập đến khi ngừng thuốc này bao gồm tăng cân, đau ngực, rối loạn giấc ngủ, đau đầu, triệu chứng cúm, buồn bôn. Tuy nhiên, các thông tin trên trong y văn rất hạn chế.

 

Ủy ban xác định rằng mặc dù các triệu chứng được mô tả trong báo cáo là hội chứng cai thuốc (withdrawal syndrome) nhưng thuật ngữ chính xác là tác dụng ngừng thuốc (discontinuation effect). Các bằng chứng đưa ra rất yếu và không cần cập nhật thêm. Tuy nhiên, không nên bỏ qua các tín hiệu an toàn thuốc thu thập từ phương tiện thông tin đại chứng và cần có phương pháp phù hợp để ghi nhận các vấn đề này.

 

(Ảnh minh họa: Internet)

 

4. NSAIDs và nguy cơ tim mạch

 

Medsafe đã nhận được hồ sơ xin thay đổi nội dung thông tin sản phẩmtừ Hãng dược phẩm Pfizer dối với thuốc viên nang Celecoxib 100 mg và 200 mg. Trong đó, Công ty này đề xuất đưa chống chỉ định sử dụng thuốc này đối với bệnh nhân nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi và/hoặc bệnh mạch máu não vào mục “Thận trọng”. Đề xuất này dựa trên nghiên cứu PRECISION đánh giá độ an toàn của celecoxib so với ibuprofen hoặc naproxen.

 

Khuyến cáo đưa ra sau cuộc thảo luận:

  • Pfizer cần cung cấp thêm các thông tin về celecoxib và nguy cơ tim mạch trước khi thay đổi bất kỳ chống chỉ định nào.
  • Medsafe sẽ rà soát các nghiên cứu mới được công bố gần đây để đánh giánguy cơ các phản ứng có hại trên tim mạch liên quan đến NSAIDs.

 

 

5. Ulipristal acetat và tổn thương gan do thuốc

 

Tháng 12/2017, Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA) bắt đầu rà soát độ an toàn của  Esmya (ulipristal acetat) sau khi nhận được các báo cáo về tổn thương gan nghiêm trọng liên quan đến thuốc này, ba trong số đó cầnghép gan. Tháng 1/2018, EMA đưa ra khuyến cáo tạm thời liên quan đến ulipristal, bao gồm theo dõi chức năng gan định kỳcho các bệnh nhân đang sử dụng thuốc, khôngbắt đầu điều trị cho bệnh nhân mới bằng Esmya và không bắt đầu đợt điều trị mới bằng Esmyacho các bệnh nhân đã điều trị trước đó.

 

Ủy ban đã thảo luận về mối liên hệ tiềm tàng giữa ulipristal và độc tính với gan. Thời gian khởi phát một tuần đến hai tháng, phù hợp về mặt lâm sàng đối với các trường hợp tổn thương gan do thuốc gây ra.Ủy ban cũng đã xem xét chi tiết ba trường hợp cần ghép gan. Trong trường hợp đầu tiên, có nguyên nhân góp phần bởicefuroxim hoặc ulipristal và không có yếu tố rõ ràng nào khác. Đối với trường hợp thứ hai, ulipristal được coi là nguyên nhân gây độc tính trên gan không xơ hóado các bệnh khác đã được loại trừ. Trường hợp thứ ba cũng cómối liên quan hợp lý giữa thuốc và biến cố cần ghép gan.

 

Ủy ban đã xem xét rằng tần suất tăng enzymgan cao từ các thử nghiệm lâm sàng và sau khi đưa thuốc ra thị trường và nhận thấytần suất xuất hiện biến cố này tương đối cao đối với mộtphản ứng có hại nghiêm trọng của thuốc.Nguy cơ này sẽ chỉ xảy ra vớiulipristal acetat được sử dụng với chỉ định đã được phê duyệt. Thông tin về hiệu quả của thuốc làcần thiết để quyết định điều trị do nguy cơ nhiễm độc gan ảnh hưởng đến cân bằng lợi ích/nguy cơ cho thuốc này.

 

Nguồn: http://www.medsafe.govt.nz/profs/adverse/Minutes173.htm

 

Người tổng hợp: Nguyễn Mai Hoa, Võ Thị Thúy Kiều