Phản ứng quá mẫn khi sử dụng sắt đường tĩnh mạch: Thông tin từ Bản tin Cảnh giác dược liên vùng Pháp số 55

Ca lâm sàng: 

Gần đây, Trung tâm ghi nhận một trường hợp bé gái 13 tuổi xuất hiện cảm giác đè ép ngực và đau đầu khởi phát 1 giờ sau truyền tĩnh mạch sắt carboxymaltose (Ferrinject®); hai giờ sau đó xuất hiện mày đay khu trú ở cánh tay không truyền thuốc. Các triệu chứng này nhanh chóng được cải thiện sau khi xử trí bằng các thuốc kháng histamin và corticoid.

Các chế phẩm sắt đường đường tĩnh mạch đang được sử dụng trong điều trị thiếu máu do thiếu sắt tại Pháp bao gồm sắt hydroxyd saccharose và sắt carboxymaltose. Mỗi chế phẩm là một phức hợp nano gồm lõi sắt hydroxyd được bao quanh bởi carbohydrat với vai trò ổn định cấu trúc. Cấu trúc càng phức tạp thì chế phẩm càng ổn định và giải phóng ít sắt tự do vào tuần hoàn hơn. Phản ứng quá mẫn (đặc biệt là phản ứng giả dị ứng) là phản ứng có hại đáng lo ngại nhất khi sử dụng các chế phẩm sắt đường tĩnh mạch. Các phản ứng này là phản ứng không thông qua trung gian miễn dịch. Trong khi đó, các phản ứng dị ứng thông qua cơ chế miễn dịch thường hiếm gặp hơn tuy nhiên lại biểu hiện nghiêm trọng hơn.

Phản ứng giả dị ứng

Phản ứng giả dị ứng thông qua cơ chế hoạt hóa bổ thể được ghi nhận với tần suất khoảng 1/100. Các phức hợp nano sắt hoạt hóa bổ thể qua con đường lectin hoặc con đường cổ điển, dẫn đến hình thành các anaphylatoxin, từ đó kích hoạt tế bào mast và bạch cầu ái kiềm, gây giải phóng nhiều chất trung gian hóa học (như histamin, thromboxan, leucotrien, protease, v.v.). Các biểu hiện lâm sàng của phản ứng giả dị ứng được mô tả như đỏ da không kèm mày đay, có thể đi kèm đau cơ, cảm giác tức ngực, đau đầu và buồn nôn. Các triệu chứng thường cải thiện nhanh chóng và tự hết sau khi ngừng truyền thuốc. Sau đó, có thể tiếp tục truyền lại với tốc độ chậm hơn và theo dõi trong và sau khi kết thúc truyền. 

Trong đó, độ ổn định của các chế phẩm sắt đường tĩnh mạch có mối liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện của các phản ứng giả dị ứng này. Ngoài ra, việc tiêm truyền với tốc độ truyền chậm hơn sẽ giúp dung nạp tốt hơn khi tái sử dụng thuốc.

Hình 1: Đặc điểm của các chế phẩm sắt đường tĩnh mạch

Đặc điểm

sắt hydroxyd saccharose

sắt carboxymaltose

sắt derisomaltose 

Vỏ carbohydrat

Saccharose

Carboxymaltose

Derisomaltose 

Độ ổn định

Trung bình

Cao

Cao

Hàm lượng sắt (%)

3,5

0,6

1,0

Khối lượng phân tử (kD)

30-60

150

150

Thời gian bán thải (giờ)

6

16

20

Hàm lượng sắt (mg/ml)

20

50

100

Pha loãng tối đa (mg/ml)

1

2

1

Liều tối đa mỗi lần truyền

200 mg

1000 mg

20 mg/kg

 

Phản ứng dị ứng

Phản ứng dị ứng qua trung gian IgE thường khởi phát nhanh sau khi tái tiếp xúc với dị nguyên, và có thể đe dọa tính mạng. Phản ứng dị ứng và giả dị ứng rất khó phân biệt trên lâm sàng. Do đó, trong trường hợp còn nghi ngờ về cơ chế gây phản ứng, ngay cả khi các triệu chứng nhẹ, vẫn cần tham khảo ý kiến chuyên khoa dị ứng trước khi kê đơn tái sử dụng bất kỳ loại thuốc nào. Việc tái tiếp xúc dị nguyên làm gia tăng nguy cơ tái xảy ra phản ứng dị ứng với mức độ nặng hơn và/hoặc khởi phát đột ngột hơn. Trong một số trường hợp, có thể cân nhắc tái sử dụng thuốc theo phác đồ giải mẫn cảm dưới sự theo dõi chặt chẽ (Hình 2).

Hình 2: Các phản ứng quá mẫn liên quan các chế phẩm sắt đường tĩnh mạch

Loại phản ứng quá mẫn

Biểu hiện

Xử trí

Nhẹ (không có mày đay) - Phản ứng giả dị ứng

Đỏ bừng da, miệng có vị kim loại, đau đầu, đau cơ, ngứa, cảm giác đè ép ngực, buồn nôn, đau khớp.

Ngừng truyền cho đến khi hết triệu chứng, sau đó truyền lại với tốc độ giảm 25%. 

Nếu tái phát, ngừng truyền vĩnh viễn và cân nhắc dùng corticoid. 

Theo dõi ≥ 60 phút.

Nhẹ (có mày đay)

Mày đay + đau cơ, đau khớp, cảm giác đè ép ngực, buồn nôn, hạ huyết áp nhẹ và thoáng qua

Ngừng truyền, dùng thuốc kháng H1 đường tĩnh mạch trong trường hợp mày đay toàn thân.

 

Theo dõi cho đến khi triệu chứng cải thiện, sau đó truyền lại với tốc độ giảm 25%. 

 

Nếu tái phát, ngừng truyền vĩnh viễn và cân nhắc dùng corticoid. 

 

Theo dõi ≥ 90 phút.

Trung bình đến nặng

Phù mạch, co thắt phế quản, thở rít, thiếu oxy, hạ huyết áp đáng kể, nhịp tim nhanh, đau ngực.

Ngừng truyền vĩnh viễn.

 

Điều trị adrenalin là ưu tiên hàng đầu. 

 

Cân nhắc bù dịch, kháng histamin tĩnh mạch, methylprednisolon tĩnh mạch, thuốc chủ vận β2. 

 

Theo dõi 2–4 giờ hoặc lâu hơn tùy mức độ nặng.

Muộn

Đau khớp, đau cơ, phát ban da.

Điều trị triệu chứng (ví dụ: NSAID, kháng H1).

 

Dựa theo kinh nghiệm lâm sàng, đối với bệnh nhân không có tiền sử dị ứng khi truyền sắt tiêm tĩnh mạch, thời gian khởi phát và mức độ từ nhẹ đến trung bình thường là dấu hiệu gợi ý của phản ứng không theo cơ chế trung gian miễn dịch.

 

Nguồn: https://www.rfcrpv.fr/wp-content/uploads/2022/06/Nice-pharmacovigilance-55.pdf

Điểm tin: DS. Bùi Thị Phương Thảo

Hiệu đính: DS. Nguyễn Hà Nhi