Các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICI) là liệu pháp miễn dịch mới, với tác dụng ức chế hoạt động của các thụ thể có trên bề mặt của các tế bào lympho T xâm nhập khối u. Từ đó, giúp khôi phục phản ứng miễn dịch (tăng hoạt động của tế bào T) để chống lại tế bào khối u, tuy nhiên có thể dẫn đến các tác dụng không mong muốn liên quan đến miễn dịch (irAE) như các bệnh tự miễn (viêm tuyến giáp, viêm gan, viêm phổi…).
Ung thư được ghi nhận xảy ra với tần suất khoảng 1/1000 phụ nữ mang thai, và nhiều trường hợp được chỉ định sử dụng các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch trong thai kỳ. Trong 3 tháng đầu, các thuốc này không hoặc ít đi qua nhau thai do kích thước phân tử lớn, vì vậy không gây ra dị tật bẩm sinh ở giai đoạn này. Tuy nhiên, sau giai đoạn này, thuốc có thể đi qua nhau thai nhờ cơ chế vận chuyển tích cực kháng thể của mẹ thông qua các con đường miễn dịch như PD-1/PD-L1 và CTLA-4 - có vai trò giúp hệ miễn dịch của mẹ dung nạp thai nhi. Lúc này, các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch có thể làm rối loạn cơ chế dung nạp này, dẫn đến tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên. Ngoài ra, việc trẻ phơi nhiễm thuốc từ trong bụng mẹ có thể làm tăng nguy cơ trẻ gặp tác dụng không mong muốn liên quan đến miễn dịch sau sinh.
Năm 2026, một tổng quan hệ thống đã phân tích 20 báo cáo ca và 3 nghiên cứu hồi cứu, bao gồm tổng cộng 1843 phụ nữ mang thai được điều trị ung thư bằng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch. Trong số các báo cáo ca, 26 bệnh nhân được điều trị bằng ICI đơn trị hoặc phối hợp hai thuốc. Trong đó có 3 trường hợp gặp tác dụng không mong muốn liên quan đến miễn dịch đã được công bố (2 trường hợp với pembrolizumab và một trường hợp với nivolumab), bao gồm viêm dạ dày-ruột tự miễn, giãn ruột và viêm ruột hoại tử (cần phải cắt bỏ một phần ruột) và suy giáp sơ sinh. Ba nghiên cứu quan sát, mỗi nghiên cứu bao gồm từ 77 đến 98 phụ nữ được điều trị bằng ICI, cũng chỉ ra tỷ lệ sinh non cao (từ 20 đến 25%), chậm phát triển trong tử cung (6 đến 7%) và các bệnh lý sơ sinh (khoảng 20%). Các tác dụng này có thể liên quan đến sự phơi nhiễm với thuốc cũng như tình trạng bệnh lý của người mẹ. Tỷ lệ dị tật được báo cáo trong 2 trên 3 nghiên cứu tương tự như của quần thể chung, lần lượt là 2,6% và 3,3%.
Các thuốc kiểm soát miễn dịch có đặc điểm dược lý cho thấy có khả năng gây ra các tác dụng không mong muốn trong thai kỳ, bao gồm nguy cơ sảy thai tự nhiên và gây ra các bệnh tự miễn ở trẻ sau sinh. Do đó, cần có thêm dữ liệu để có thể đưa ra kết luận chắc chắn về hồ sơ an toàn lâm sàng khi sử dụng các thuốc này trong thai kỳ.
Nguồn: https://www.chu-montpellier.fr/fr/crpv/sinformer/bip-2026-n1#c42017
Điểm tin: SV. Nguyễn Thị Thu Huyền
Hiệu đính: DS. Hoàng Hải Linh
